Tài năng xuất chúng của nghệ sĩ mù Stevie Wonder

Stevie Wonder, một nhân vật tiêu biểu cho âm nhạc đại chúng Hoa Kỳ nửa sau thế kỷ 20. Tuy bị mù từ nhỏ nhưng âm nhạc trong ông tỏa sáng mọi thời đại với những: Talking book, Innervisions, Fulfillingness first finale, Songs in the key of life...


Stevie Wonder được xem là một trong những nghệ sĩ đóng góp nhiều nhất cho nền âm nhạc Hoa Kỳ

Trong chương trình Thế giới âm nhạc phát sóng lúc 6g ngày 5/10 trên HTV7 với chủ đề “Những ca khúc vì cộng đồng”, khán giả sẽ đặc biệt được thưởng thức biệt tài của giọng ca huyền thoại của ca sĩ khiếm thị người Mỹ gốc Phi Steve Wonder cùng một số nghệ sĩ là bạn bè của ông, qua ca khúc That’s what friends are for. Bài hát hay nhất trong phim The Woman In Red và được trao giải Oscar 1984.

Steve Wonder tên khai sinh là Steveland Hardaway Judkins, sinh ngày 13/5/1950, tại Saginaw, Michigan. Về sau ông đổi tên là Steveland Hardaway Morris. Ông viết nhạc, biểu diễn nhiều loại nhạc cụ, nhà sản xuất các chương trình ghi âm, và là một tài năng xuất chúng về nhạc pop trong nửa cuối thế kỷ 20.

Wonder có hơn 20 đĩa xếp hạng top 10 của Mỹ, đoạt 26 giải Grammy, (là nghệ sĩ hát solo đoạt nhiều giải nhất trong lịch sử của giải này), với 1 giải Thành tựu trọn đời, Giải cho Bài hát hay nhất, và được vinh danh trong Bảo tàng Âm nhạc với dòng nhạc Rock and Roll và với tư cách nhạc sĩ. Một điều đặc biệt về Stevie Wonder là ông bị mù bẩm sinh, đến năm 11 tuổi bắt đầu hát nhạc ở góc phố rồi ký hợp đồng với Motortown Record, và tiếp tục biểu diễn và thu âm cho hãng này. Năm 12 tuổi, cậu bé Steveland Morris đã gây ấn tượng mạnh trong lòng khán giả khi xuất hiện trong chương trình American Bandstand.


Stevie Wonder lừng danh với tài chơi piano và với giọng ca vàng được mệnh danh là huyền thoại nhạc pop của Mỹ

Tuy bị khiếm thị, nhưng người nghệ sĩ tài hoa này đã tự học và có thể biểu diễn điêu luyện nhiều loại nhạc cụ như piano, harmonica, trống, guitar bass, đàn organ, trống nhỏ vỗ bằng tay, đàn clavinet… Khi còn thơ ấu, Stevie Wonder nổi tiếng về tài chơi harmonica, nhưng sau này ông lừng danh với tài chơi piano và với giọng ca vàng được mệnh danh là huyền thoại nhạc pop của Mỹ.

Nhiều bài hát của Stevie Wonder trở thành top hit như: I just called to say i love you đã đoạt giải Oscar 1984 cho bài hát hay nhất trong phim The Woman in Red. Từ bài hát Blowin’ in the Wind của Bob Dylan được ông trình bày lại, hay các sáng tác của chính mình, như: You are the sunshine of my life, My cherie amour, Signed, Superstition, Higher Ground, Living for the city, Sesame Street, hay các bản ballad như: Golden LadyAll in love is fair đều giản dị nhưng rất được ưa chuộng và thành top hits. Album Innervisions năm 1973 của ông đạt được 3 giải Grammy, và trở thành album của năm.


Stevie Wonder trước sự ngưỡng mộ của các nghệ sĩ quốc tế

Với 10 bản nhạc pop xếp hạng 1 và 20 bài R & B hạng 1 (Rhythm and Blues), với tổng số album bán được trên 100 triệu bản, Stevie Wonder được xếp hạng như nghệ sĩ da màu thứ hai đoạt giải Oscar về “Bài hát hay nhất”, và ở vị trí 11 trên tổng số nhạc sĩ lừng danh trên bảng tổng sắp của Anh.

Vốn là một nghệ sĩ rất được Obama yêu thích, Stevie Wonder đã biểu diễn vào ngày 18/1/ 2009 trong lễ nhậm chức của Tổng thống Barack Obama tại đài tưởng niệm Abraham Lincoln. Ông đã hát 2 bài, Brand new day và bài hát mới All about the love again và cùng các ca sĩ khác trong các bài: Signed, Sealed, and Delivered.

Ngày 23/2/2009, Stevie Wonder được trao giải thưởng Gershwin Prize của Thư viện Quốc hội Mỹ (người thứ hai được trao giải này) vì những bài hát của ông rất được hâm mộ trong lòng những người yêu nhạc toàn thế giới. Giải thưởng này nhằm vinh danh những nghệ sĩ có tác phẩm vượt biên giới âm nhạc để tạo nên sự hiểu biết giữa con người với nhau.

Thành công của “That’s what friends are for”

Bài hát That’s what friends are for do Burt Bacharach và Carole Bayer Sager viết; Rob Stewart đã hát như bài hát chủ đề kết thúc bộ phim hài Night Shift vào năm 1982. Ba năm sau bài hát trở nên nổi tiếng khi được Dionne Warwick và những người bạn gồm Stevie Wonder, Gladys Knight, và Elton John trình bày lại để gây quỹ từ thiện ở Anh và Mỹ.

That’s what friends are for được thu âm để lấy tiền quyên góp cho tổ chức nghiên cứu bệnh AIDS ở Mỹ ( American Foundation for AIDs Research) và thu được hơn 3 triệu đô la cho mục đích này. Bản nhạc này đứng ở vị trí số 1 suốt 4 tuần tháng 1/1986 trong bảng xếp hạng Billboard, và được Billboard chọn là đĩa đơn hay nhất của năm 1986. Sau đó nhóm nghệ sĩ này đoạt được giải Grammy dành cho “Nhóm trình diễn nhạc pop hay nhất” và đoạt giải “Bài hát của năm” vào năm 1986.

Bài hát này sau đó còn trở thành chủ đề cho một đêm nhạc từ thiện lớn lấy tên của bài hát tại thành phố New York nhằm quyên góp cho nạn nhân AIDS. Một tháng sau đêm nhạc được phát trên kênh truyền hình CBS với That’s what friends are for là bài hát kết thúc chương trình ca nhạc kéo dài 2 giờ có sự tham gia của Warwick và tất cả nghệ sĩ khách mời danh tiếng. Đêm nhạc đã thu thêm được hơn 2,5 triệu đô la nữa cho các hoạt động cứu trợ nạn nhân AIDS.

That’s what friends are for được xếp hạng 51 trong danh sách Billboard cho “Những bản nhạc hay nhất của mọi thời đại”. 


Huyền thoại Stevie Wonder cùng những người bạn thân thiết trong ca khúc “That’s what friends are for”
Tuấn Long
Giọng ải giọng ai Mùa 3 - Tập 2

Giọng ải giọng ai Mùa 3 - Tập 2

Hoàng Yến Chibi tái diễn "Nụ hôn đánh rơi" với nhân tố mới
La la school - Trailer tập 11

La la school - Trailer tập 11

Nỗ lực để có được tình yêu của Khiết Băng qua món quà Valentine tự tay chuẩn bị