Chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030

Dự thảo Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 đang được Bộ Y tế chủ trì soạn thảo.

Bộ Y tế cho biết, HIV/AIDS là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và sự phát triển của đất nước. Ở Việt Nam, ước tính hiện có khoảng 230.000-250.000 người nhiễm HIV, trong đó có khoảng 210.000 người đã biết tình trạng nhiễm HIV. Đến nay đã có trên 103.000 người nhiễm HIV tử vong; 100% tỉnh, thành phố và 98% số quận, huyện đã phát hiện người nhiễm HIV.

Nhận thức rõ tác động tiêu cực của dịch HIV/AIDS, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng nhằm khống chế sự gia tăng của dịch HIV/AIDS, trong đó có Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 608/2004/QĐ-TTg ngày 25/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp Chiến lược đã giúp ngăn chặn tốc độ gia tăng của đại dịch HIV/AIDS, liên tục giảm số người nhiễm HIV mới, số trường hợp chuyển sang AIDS và tử vong liên quan đến HIV/AIDS hàng năm, hoàn thành tốt mục tiêu khống chế tỷ lệ nhiễm HIV dưới 0,3% trong cộng đồng dân cư vào năm 2020. Ước tính, trong 20 năm qua cả nước đã dự phòng cho hơn 400.000 người không bị nhiễm HIV và 150.000 không bị tử vong do AIDS. Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những điểm sáng về phòng, chống HIV/AIDS.

Tuy tình hình HIV/AIDS vẫn diễn biến phức tạp nhưng hiện Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để có thể chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030 với số người nhiễm HIV mới được phát hiện giảm dưới 1.000 trường hợp/năm và HIV/AIDS không còn là vấn đề sức khỏe đáng lo ngại của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và của cộng đồng nếu có một Chiến lược quốc gia phù hợp về chấm dứt dịch AIDS và được tổ chức triển khai toàn diện, hiệu quả.

Bộ Y tế đã đề xuất dự thảo Chiến lược Quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 nhằm đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS để giảm số người mới nhiễm HIV và tử vong liên quan AIDS, chấm dứt dịch AIDS tại Việt Nam vào năm 2030, giảm tối đa tác động của dịch HIV/AIDS lên sự phát triển kinh tế-xã hội.

Cụ thể, mở rộng và đổi mới các hoạt động can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV, tỷ lệ người có hành vi nguy cơ cao được tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV đạt 80% vào năm 2030; mở rộng và đa dạng hóa các loại hình tư vấn xét nghiệm HIV, đẩy mạnh xét nghiệm HIV dựa vào cộng đồng, tự xét nghiệm; tỷ lệ người nhiễm HIV trong cộng đồng biết tình trạng HIV của mình đạt 95% vào năm 2030; giám sát chặt chẽ tình hình diễn biến dịch HIV/AIDS ở các nhóm nguy cơ cao.

Đồng thời, mở rộng và nâng cao chất lượng điều trị HIV/AIDS, tỷ lệ người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm HIV của mình được điều trị thuốc kháng vi rút HIV đạt 95%; tỷ lệ người được điều trị thuốc kháng vi rút HIV có tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế đạt 95%; loại trừ lây truyền HIV từ mẹ sang con vào năm 2030.

Bên cạnh đó, củng cố và tăng cường năng lực hệ thống phòng, chống HIV/AIDS; đảm bảo nguồn nhân lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS; đảm bảo tài chính cho phòng, chống HIV/AIDS, trong đó tỷ lệ nguồn tài chính trong nước đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu kinh phí cho phòng, chống HIV/AIDS vào năm 2030.

Mở rộng độ bao phủ dịch vụ điều trị HIV/AIDS

Để thực hiện mục tiêu trên, Bộ Y tế đề xuất 11 nhóm giải pháp. Trong đó có nhóm giải pháp về điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV.

Cụ thể, mở rộng độ bao phủ dịch vụ điều trị HIV/AIDS bằng cách: Điều trị bằng thuốc kháng vi rút HIV (thuốc ARV) cho những người nhiễm HIV ngay sau khi được chẩn đoán xác định. Mở rộng điều trị HIV/AIDS tại các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, các trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội, các tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội và các tổ chức khác. Huy động sự tham gia của y tế tư nhân trong điều trị HIV/AIDS. Lồng ghép cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS vào hệ thống khám bệnh, chữa bệnh; lồng ghép điều trị đồng nhiễm HIV/AIDS với Lao, viêm gan vi rút, các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Phân cấp điều trị HIV/AIDS về tuyến y tế cơ sở; mở rộng chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại tuyến xã, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS tại nhà, tại cộng đồng.

Bên cạnh đó, tăng cường tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai; điều trị ngay thuốc ARV cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV; chẩn đoán sớm, quản lý và điều trị cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV. Tăng cường dự phòng mắc lao ở người nhiễm HIV; tăng cường phát hiện bệnh lao ở người nhiễm HIV và phát hiện nhiễm HIV ở bệnh nhân lao; điều trị đồng nhiễm lao/HIV. Mở rộng điều trị đồng nhiễm HIV với viêm gan B, C và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tăng cường dự phòng mắc viêm gan B, C ở người nhiễm HIV; tăng cường phát hiện viêm gan B, C ở người nhiễm HIV và phát hiện nhiễm HIV ở bệnh nhân viêm gan B, C.

Bộ Y tế cũng đề xuất nâng cao chất lượng điều trị HIV/AIDS bằng cách: Cập nhật kịp thời hướng dẫn điều trị HIV/AIDS theo các khuyến cáo mới phù hợp với điều kiện của Việt Nam; thực hiện tối ưu hóa phác đồ điều trị HIV/AIDS, đảm bảo điều trị an toàn, hiệu quả. Cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS phù hợp với tình trạng của người bệnh. Tăng cường quản lý, theo dõi và hỗ trợ tuân thủ điều trị HIV/AIDS. Mở rộng các hoạt động cải thiện chất lượng điều trị HIV/AIDS, lồng ghép vào hệ thống quản lý chất lượng bệnh viện; mở rộng độ bao phủ xét nghiệm theo dõi điều trị HIV/AIDS (xét nghiệm CD4, xét nghiệm đo tải lượng vi rút HIV).

Cùng với đó, tăng cường hoạt động dự phòng, giám sát HIV kháng thuốc, cảnh giác dược và theo dõi các phản ứng có hại của thuốc ARV trong điều trị HIV/AIDS. Lồng ghép theo dõi cảnh báo sớm HIV kháng thuốc vào quản lý chất lượng điều trị HIV/AIDS.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.
Sỹ Thành